Video Mostread

Nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở Việt Nam hiện nay (Kỳ 2)

Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là mối quan hệ thứ mười được bổ sung trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, hợp thành hệ thống mười mối quan hệ lớn, thể hiện tính quy luật của đổi mới, hội nhập và phát triển ở nước ta. Yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở nước ta trong thời gian tới.

Thực trạng mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội

Cho dù đến Đại hội XIII, Đảng ta mới chính thức nêu lên mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, đặt nó trong sự tác động biện chứng của các mối quan hệ lớn khác, song trên thực tế, suốt hơn 35 năm đổi mới, chúng ta đã phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ này, không chỉ trong xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị mà còn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những kết quả, thành tựu, những tiến bộ trong thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở nước ta trong những năm đổi mới vừa qua có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, thực hành dân chủ thông qua dân chủ hóa kinh tế. Bên thềm đổi mới và trong những năm đầu khởi động công cuộc đổi mới, Chỉ thị số 100/CT-TW, ngày 13-1-1981, của Ban Bí thư, “Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp” và Nghị quyết số 10/NQ-TW, ngày 5-4-1988, của Bộ Chính trị, “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” là những quyết sách có ý nghĩa đột phá, tạo nên những chuyển biến nhanh chóng và mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta. Đó là khởi đầu của dân chủ hóa kinh tế, cũng là mở đầu cho thực hành dân chủ rộng rãi trong xã hội. Từ đây, nông dân và người lao động ở nước ta được giải phóng khỏi cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, được quyền tự chủ sản xuất - kinh doanh, làm chủ tư liệu sản xuất và các tư liệu sinh hoạt của mình (ra khỏi tình trạng thụ động, bị động). Thực tiễn đã khẳng định rằng, chủ trương của Đảng đề ra ngay từ những năm đầu đổi mới giải phóng sức sản xuất, giải phóng ý thức, tinh thần và mọi tiềm năng của xã hội để đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống gắn liền với dân chủ hóa xã hội(1) là một bước tiến lớn, một thành tựu to lớn của dân chủ hóa kinh tế, của thực hành dân chủ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi công nhân khu công nghiệp tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình_Ảnh: TTXVN 
Đến Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, Đảng ta đã thay đổi căn bản nhận thức về kinh tế tư nhân, đề ra chủ trương khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, đánh giá cao tiềm năng và sự đóng góp của kinh tế tư nhân trong tăng trưởng, phát triển nền kinh tế quốc dân, khẳng định kinh tế tư nhân không những tồn tại lâu dài mà còn là một trong những động lực quan trọng phát triển nền kinh tế, phát triển đất nước. Tư nhân, không ai khác, chính là người dân làm kinh tế trên tư cách người chủ và làm chủ xã hội(2). Sự thống nhất giữa lợi ích và trách nhiệm, giữa quyền và nghĩa vụ được thực hiện. Mọi người dân, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ.

Cùng với việc xóa bỏ bình quân, bao cấp, nhận thức mới về công bằng xã hội cũng đã được hình thành. Trong cơ chế thị trường, buộc phải chấp nhận cạnh tranh và phân hóa giàu nghèo, dùng pháp luật và cơ chế để điều chỉnh, điều tiết việc phân phối lợi ích, vì lợi ích chung của xã hội, tạo ổn định để phát triển, không để xảy ra bần cùng hóa, làm tổn hại tới những thành phần cơ bản trong xã hội. Tuy nhiên, công bằng và bình đẳng xã hội không chỉ được thể hiện trong phân phối lợi ích, cái cốt yếu, sâu xa, thực chất hơn của công bằng và bình đẳng xã hội là công bằng và bình đẳng về cơ hội phát triển. Mọi người dân, mọi thành viên trong cộng đồng được đặt trong môi trường đổi mới để phát triển. Đó là sự gắn kết giữa lợi ích kinh tế với bảo đảm tính nhân văn trong phát triển. Trong môi trường và điều kiện ấy, người lao động, trước hết là người nông dân đã “trở lại với chính mình”, sống và làm việc thực sự với tư cách chủ thể sáng tạo. Tâm lý, ý thức, tư duy của người nông dân cũng thay đổi căn bản, từ tư duy hiện vật (một sào ruộng làm ra bao nhiêu ki-lô-gam thóc) sang tư duy giá trị(3) (một héc-ta đất trồng thu được bao nhiêu triệu đồng). Đó là bước tiến lớn của thực hành dân chủ trong kinh tế và trong văn hóa.

Thứ hai, thực hành dân chủ trong chính trị, trong hoạt động tham chính, trong tham gia quản lý xã hội của công dân, có những biểu hiện nổi bật sau đây:

Tổ chức các hội nghị tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi giữa các đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân với cử tri trước khi diễn ra các kỳ họp để các đại biểu lắng nghe ý kiến, nguyện vọng cùng những kiến nghị của người dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như sau khi các kỳ họp kết thúc để các đại biểu báo cáo kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân. Tiếng nói của người dân ở cơ sở được lắng nghe, được tôn trọng. Những kiến nghị hợp lý của người dân về đường lối, chính sách đã được các đại biểu tiếp thu, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm giải quyết và trên thực tế đã có những điều chỉnh kịp thời, đáp ứng những đòi hỏi của người dân. Đó không chỉ là kinh tế mà còn là chính trị và quản lý xã hội, ở chỗ, quyền làm chủ của người dân, sự tham gia của người dân vào đánh giá đường lối, chính sách, đổi mới chính sách và cơ chế cho phù hợp với thực tiễn được tôn trọng và thực hiện.

Trong việc tiếp dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân về những biểu hiện vi phạm dân chủ, làm sai các quy định của chính sách, pháp luật của Nhà nước; những biểu hiện quan liêu, xa dân, vô trách nhiệm; những việc làm bất minh, trái đạo đức; những hành vi ức hiếp, trù dập, sách nhiễu, tham nhũng của những người thi hành công vụ khi ứng xử với người dân đã được tập hợp, nghiên cứu, điều tra và xử lý. Đó là thái độ tôn trọng dân và bằng những việc làm thiết thực mà phục vụ dân, bảo vệ dân. Đã có những bước tiến đáng kể trong việc khắc phục tình trạng tiếp dân một cách hình thức, lời hứa không đi liền với thực hiện, tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy công quyền. Tổ chức cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản luật, các dự thảo văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội.

Việc đẩy mạnh thực hành dân chủ trong những năm gần đây còn được chú trọng bằng cách, tạo môi trường và cơ chế để nhân dân tham gia kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng chức quyền của các cán bộ, đảng viên vi phạm các nguyên tắc hoạt động của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm những điều sai trái, mưu cầu danh lợi và những cấu kết nhóm lợi ích, gây tổn hại tới lợi ích chung của xã hội, làm hoen ố thanh danh của Đảng và sức mạnh của Nhà nước.

Thực hành dân chủ, do đó, gắn chặt với thực thi pháp luật, pháp chế và siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Nhờ đẩy mạnh thực hành dân chủ với tiếng nói của người dân, hành vi của người dân được tôn trọng mà cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng có những kết quả rất rõ rệt. Việc xử lý nghiêm minh các vụ án tham nhũng đã góp phần quan trọng vào việc làm trong sạch bộ máy, loại bỏ những kẻ thoái hóa, biến chất, bảo vệ lợi ích, tài sản quốc gia, làm tăng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thứ ba, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã tạo động lực thúc đẩy quần chúng nhân dân phát huy vai trò làm chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở nông thôn.

Thực hiện hai văn bản quan trọng này, đã tạo chuyển biến tích cực về tâm lý, nhận thức, ý thức làm chủ từ hai phía người dân và cán bộ, công chức, giữ vững ổn định về chính trị, tiến tới tăng trưởng mạnh về kinh tế và thúc đẩy sự phát triển toàn diện (xã hội, chính trị, văn hóa,...). Những mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhân dân được kịp thời giải quyết. Hiểu biết về chính sách, pháp luật, thực hiện kỷ luật, kỷ cương của người dân được nâng cao. Đảng và Nhà nước đã kịp thời bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp quy về dân chủ ở cơ sở, về thực hành dân chủ từ cơ sở gắn với thực hiện dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp - là hai phương thức cơ bản về thực hành dân chủ ở nước ta.

Cùng với việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, đã hình thành các phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng văn hóa khu dân cư, xây dựng gia đình văn hóa và xây dựng nông thôn mới. Đây là giải pháp rất thiết thực, tạo xung lực và sự bổ trợ cần thiết để đẩy mạnh thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Thứ tư, áp dụng phương thức hội nghị toàn dân hay đại diện dân cử (các chủ hộ trong từng gia đình) để dân bầu trực tiếp trưởng thôn (ở nông thôn), tổ trưởng khu dân cư (ở đô thị). Đây là công việc thể hiện rõ vai trò của người dân: được tự do lựa chọn người đại diện xứng đáng của mình để ủy quyền và trao quyền. Qua đó, có thể khẳng định, hiệp thương dân chủ của Mặt trận Tổ quốc kết hợp với tập trung dân chủ làm phong phú các hình thức và phương thức thực hành dân chủ, xây dựng nền dân chủ ở nước ta trong đổi mới và dân chủ hóa.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở nước ta hiện nay còn một số hạn chế, yếu kém.

Một là, vẫn còn không ít biểu hiện của dân chủ hình thức trong sinh hoạt đảng, trong hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Việc thực hiện, tuân thủ pháp luật và pháp chế trong đời sống xã hội chưa thật nghiêm chỉnh. Vẫn còn những biểu hiện coi thường luật pháp, cố ý làm trái hoặc lợi dụng những kẽ hở trong các văn bản pháp luật vốn chưa hoàn thiện để làm sai, làm trái, liên kết lợi ích nhóm vì lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân, làm phương hại tới lợi ích chung.

Hai là, nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm khá phổ biến và nghiêm trọng. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo thiếu tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; cán bộ lãnh đạo ở một số nơi còn có biểu hiện gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức. Còn thiếu những quy chế xác định trách nhiệm cụ thể của cán bộ, đảng viên, dẫn đến vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích được những cán bộ, đảng viên nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung(4)

Ba là, vẫn còn không ít nơi, không ít cán bộ, đảng viên chưa thực hiện sự nêu gương, chưa coi nêu gương là trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận như Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” đã đề ra. Tình trạng này cũng gắn liền với sự tha hóa quyền lực, tha hóa nhân cách ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao.

Bốn là, còn có sự không đồng bộ và thiếu nhất quán giữa đổi mới tổ chức thiết chế với hệ thống thể chế, với chất lượng cán bộ, rộng hơn là nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị, kể cả việc giáo dục ý thức chính trị, thói quen tuân thủ pháp luật và coi trọng đạo đức trong nhân dân. Những biểu hiện của việc coi thường kỷ cương, luật pháp, phép nước không nghiêm, sự “nhờn luật”, thói quen ứng xử “phép vua thua lệ làng” còn khá phổ biến và nặng nề. Đó là biểu hiện yếu kém về thực hiện văn hóa dân chủ, văn hóa pháp luật.

Năm là, tệ nạn thường đi liền với tiêu cực. Phòng, chống tham nhũng chưa đủ mạnh. Trong phòng, chống tham nhũng, chưa chú ý đúng mức đến việc phê phán và xử lý các tiêu cực xã hội, trước hết là trong hệ thống Đảng  các cơ quan công quyền. Những sự việc, vụ việc tiêu cực vẫn thường xảy ra làm cho xã hội bất an, đời sống bất ổn, con người sống trong cảm giác không an toàn... là bằng chứng cho thấy thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương còn tồn đọng rất nhiều vấn đề nhức nhối cần phải giải quyết(5).

Việc tồn tại một số hạn chế, yếu kém về thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội bắt nguồn từ những nguyên nhân cụ thể sau:

Một là, sự chỉ đạo, lãnh đạo của một số cấp ủy và chính quyền trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn là khâu yếu kéo dài, có nơi buông lỏng, thực hiện một cách hình thức, hời hợt nên các quyết sách dù rất quan trọng nhưng chậm đi vào cuộc sống, ít tác dụng, hiệu quả. Chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa kinh nghiệm, bệnh hình thức, giáo điều, chủ quan, duy ý chí ở nhiều nơi vẫn còn tồn tại dai dẳng, tác động và ảnh hưởng rất nặng nề tới tư duy và hành động của nhiều tổ chức trong hệ thống chính trị và nhiều cán bộ, đảng viên.

Hai là, do tác động của mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khuynh hướng thiên về những lợi ích vật chất, sự nảy sinh tâm lý làm giàu bằng mọi cách, lối sống hưởng thụ, thực dụng trong xã hội ngày càng gia tăng, trong khi ở một số nơi lại chưa chú trọng giáo dục đạo đức, định hướng các giá trị đạo đức, tinh thần lành mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc xây dựng nền văn hóa mới và con người mới ở nhiều nơi chưa được coi trọng và đầu tư đúng mức, chưa ngang tầm với đầu tư phát triển kinh tế. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tình trạng suy đồi, xuống cấp của đạo đức xã hội vẫn còn nguy cơ gia tăng.

Ba là, việc định hướng dư luận xã hội tích cực ở nhiều nơi chưa được thực hiện tốt; việc quản lý không chặt chẽ, xử lý không nghiêm minh những thông tin xấu, độc tràn lan trên các phương tiện truyền thông xã hội, làm ô nhiễm đời sống tinh thần xã hội, nhất là đối với thế hệ trẻ, cũng là biểu hiện của sự hạn chế, yếu kém trong thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, siết chặt kỷ luật, kỷ cương xã hội.

Bốn là, việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có lúc, có nơi không được thường xuyên, nghiêm túc. Nguyên tắc tập trung dân chủ khi vận dụng vào thực tiễn có nhiều sai sót, thậm chí bị biến dạng, làm phương hại tới việc thực hành dân chủ, suy giảm sức mạnh của pháp chế, kỷ cương xã hội.

Năm là, sự buông lỏng quản lý, kiểm tra, giám sát, không thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trong đó có nêu gương về đạo đức, tuân thủ pháp luật, pháp chế, kỷ cương xã hội cũng là tác nhân dẫn tới những ảnh hưởng xấu trong xã hội, trong nhân dân, và khi những ảnh hưởng xấu đó được những thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc, kích động thì dễ dẫn tới những lộn xộn, mất an ninh, trật tự.

Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội

Để nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trong thời gian tới cần quán triệt các quan điểm sau: 

Thứ nhất, nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải phù hợp với nguyên tắc quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm cá nhân, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Ngày nay, nhận thức, thực hành dân chủ phải trên cơ sở các nguyên tắc và tinh thần của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn quyền, lợi ích của công dân với sự phát triển bền vững của xã hội. Quyền, nghĩa vụ, tự do đi liền với trách nhiệm - đó là tiền đề, là điều kiện bảo đảm cuộc sống của mỗi người dân, cộng đồng, các quốc gia và toàn nhân loại. Nghĩa vụ pháp lý là thành tố tất yếu của mối quan hệ tương tác giữa nhà nước, pháp luật và cá nhân; nếu thiếu nó thì không thể có được sự cân bằng trong các mối quan hệ xã hội, các loại lợi ích, trong hoạt động xã hội và môi trường xã hội. Cũng như đối với quyền con người, nghĩa vụ pháp lý cũng mang tính phổ quát và tính đặc thù, cái làm nên những điểm tương đồng và khác biệt tất yếu của các bản hiến pháp trên thế giới. Nghĩa vụ là mặt thứ hai của một thể thống nhất biện chứng của quyền và nghĩa vụ, do vậy, có tính giá trị hữu ích cho sự tồn tại của con người và các tổ chức do con người lập ra. Nghĩa vụ pháp lý, nhất là các nghĩa vụ hiến định, chính là vật cản hợp pháp trong cuộc sống thường ngày đối với mọi sự lạm quyền, độc đoán, tùy tiện, vô chính phủ và đối với tất cả những hiện tượng tiêu cực khác ảnh hưởng đến các quyền, tự do luật định của con người. 

Thứ hai, nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải trên cơ sở phát huy vai trò, tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.

Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò to lớn trong việc nâng cao nhận thức và triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở, vận động nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Cần phát huy vai trò và đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là các cấp ủy cơ sở. Các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trước hết phải được quán triệt và thông suốt trong cán bộ, đảng viên ở cấp cơ sở, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động.

Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò to lớn trong việc nâng cao nhận thức và triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; gắn chặt thực hành dân chủ với thực hành đại đoàn kết, xây dựng xã hội đồng thuận (Trong ảnh: Các đoàn thể nhân dân và lực lượng vũ trang giúp người dân thôn Pơning (xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam) di chuyển nhà do sạt lở)_Ảnh: baoquangnam.vn 
Các cấp ủy phải thường xuyên lãnh đạo chặt chẽ quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn; cùng với đó, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân để có chương trình, kế hoạch tổ chức và thực hiện hiệu quả. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý nhà nước, mà còn có vai trò to lớn trong việc phát huy và thực hành dân chủ. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là những diễn đàn thể hiện tiếng nói của nhân dân trong tham gia đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước, đồng thời tham gia kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải đáp ứng yêu cầu tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tuân thủ pháp luật, xây dựng văn hóa, phẩm chất đạo đức, nhân văn.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nhận thức, thực hành dân chủ phải trên cơ sở nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và bảo đảm kỷ cương xã hội. Yêu cầu đó không chỉ được đặt ra đối với Nhà nước, pháp luật mà đối với tất cả mọi cá nhân, tổ chức. Cần hình thành văn hóa dân chủ theo nguyên tắc pháp quyền, trên cơ sở quyền và lợi ích con người, vì sự phát triển xã hội.

Nhận thức và thực hành dân chủ phải trên cơ sở các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền. Tiêu biểu trong số đó là các nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc công bằng, nhân đạo; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và công dân; nguyên tắc thượng tôn hiến pháp, pháp luật; nguyên tắc “được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm”; nguyên tắc “chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép”; nguyên tắc công khai, minh bạch,...

Thứ tư, nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải đáp ứng yêu cầu xử lý nghiêm minh mọi hành vi lợi dụng quyền con người, tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật, chống phá chế độ, xâm phạm lợi ích cá nhân, tổ chức.

Pháp chế và kỷ cương xã hội là điều kiện cần thiết để duy trì dân chủ trên cả hai bình diện: các giá trị, nguyên tắc dân chủ và các định chế dân chủ. Điều đó là tất yếu, bởi dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu một môi trường pháp lý, khung pháp luật. Dân chủ chỉ có thể được bảo đảm và thực thi trên thực tế trong khuôn khổ của một chế độ pháp chế vững chắc.

Thượng tôn pháp luật là điều kiện tiên quyết để dân chủ được thực hành rộng rãi và thực chất. Theo đó, đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, từ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đến mọi công dân, đều phải tôn trọng và thực hiện các nghĩa vụ pháp lý và phải chịu trách nhiệm bắt buộc khi vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền con người, tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật, chống phá chế độ, xâm phạm lợi ích cá nhân và tổ chức.

Phương hướng nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là:

Bám sát Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đặc biệt là phương châm, chủ đề của Đại hội, những bài học kinh nghiệm quý báu được Đảng tổng kết từ thực tiễn đổi mới, những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; lấy đó làm cơ sở, định hướng đẩy mạnh thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đó là những phương hướng lớn, vừa thể hiện định hướng mục tiêu, vừa là những quan điểm chỉ đạo đổi mới, nhất là đổi mới hệ thống chính trị, để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, phục vụ cuộc sống, hạnh phúc của người dân trên cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo của người dân. Theo đó, thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, tạo ra động lực mạnh mẽ từ nhân dân, trong các phong trào thi đua yêu nước của nhân dân, trong đổi mới, kiến tạo xã hội dân chủ, phát triển nhanh và bền vững đất nước, thực hiện khát vọng phát triển đất nước, làm cho đất nước cường thịnh, dân tộc trường tồn. Đó vừa là khát vọng, mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa là khát vọng, mong muốn của toàn Đảng, toàn dân.

Nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Cơ sở quan trọng để có thể giải quyết đúng đắn, đầy đủ mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, đó chính là nhận thức đúng bản chất, ý nghĩa, tầm quan trọng của mối quan hệ cốt lõi này. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ này được đặt ra đối với từng cá nhân, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, lãnh đạo các tổ chức đảng, đoàn thể nhân dân.

Cần có những giải pháp bền vững, trong đó có giải pháp xây dựng văn hóa thực hành dân chủ và pháp luật. Để người dân có thể thực hiện đúng, đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình, cần nâng cao năng lực làm chủ cho người dân, tức là tạo cho người dân có kiến thức, kỹ năng và thái độ, thói quen trong thực hiện dân chủ. Năng lực làm chủ của người dân phụ thuộc trực tiếp vào hai yếu tố: quyền được tiếp cận thông tin và trình độ học vấn, sự hiểu biết về xã hội của người dân.

Cần chú trọng đầu tư công tác giáo dục dân chủ, pháp luật và đạo đức. Quan tâm nâng cao trình độ dân trí và bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của người dân. Đây là các giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực làm chủ, bảo đảm quyền và trách nhiệm của người dân trong thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa nói chung và dân chủ ở cơ sở nói riêng.

 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an ninh biên giới, chủ quyền lãnh thổ cho các em học sinh các dân tộc tại Trường Trung học phổ thông Mường Nhé (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên)_Ảnh: TTXVN
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Sự lãnh đạo của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, bảo đảm cho các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thực hiện trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật và tôn trọng pháp luật.

Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải thực sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu thực hành dân chủ trong Đảng và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Đây là giải pháp then chốt và có tính quyết định; đồng thời, cũng là điều mong đợi, quyết tâm của Đảng và là điều mong muốn của toàn dân đối với Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước phải bảo đảm tính minh bạch, công khai, tuân thủ đúng pháp luật, không áp đặt, bao biện, làm thay công việc quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy, chi bộ, đặc biệt là các chi bộ thôn, buôn, làng cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc phổ biến, học tập và thảo luận, đóng góp ý kiến đối với Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đạt hiệu quả cao hơn nữa.

Chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy cần làm tốt công tác nắm bắt diễn biến tư tưởng cũng như những biểu hiện về hành vi của cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị để có giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi phù hợp, kịp thời. Cần thường xuyên tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại về những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có biện pháp xử lý nghiêm minh đối với những hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền để gây rối trật tự công cộng, chống phá đất nước.

Ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần đẩy mạnh thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật là điều kiện đặc biệt quan trọng để đẩy mạnh thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài và vô cùng phức tạp.

Các nhóm giải pháp chủ yếu về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bao gồm: giải pháp về cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan có trách nhiệm xây dựng pháp luật; về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật; về chế độ kiểm soát, trách nhiệm, xử lý vi phạm trong xây dựng pháp luật; về góp ý, phản biện xã hội, đánh giá tác động của pháp luật; về kiểm soát chất lượng văn bản pháp luật;...

Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa trên cả hai mặt - dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý rõ ràng và hiệu quả để thực hiện quy định này. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện cho phù hợp với tình hình mới.

Bốn là, củng cố nền tảng đạo đức của các thể chế công vụ và tư pháp.

Một yêu cầu quan trọng đối với việc thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội là củng cố nền tảng đạo đức của các thiết chế công vụ và tư pháp. Thực tiễn thực thi pháp luật ở Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực công vụ và tư pháp đã cho thấy, pháp luật cần song hành với các yếu tố, giá trị khác trong xã hội như đạo đức, sự liêm chính, tài năng và sự tận tụy. Một hệ thống tư pháp liêm chính và có uy tín có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh chống tham nhũng và duy trì trật tự pháp luật(6).

Hoàn thiện thủ tục xét xử giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao theo hướng minh bạch, nâng cao chất lượng xét xử, đề cao trách nhiệm và năng lực kiểm tra giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thiết chế đó thực sự là đỉnh cao của công lý, làm cho người dân thực sự tin tưởng vào thiết chế đó. Định hướng cải cách đó được đặt ra trên cơ sở nhận thức sâu sắc rằng, việc tòa án xét xử các vụ án hành chính, các khiếu kiện của công dân đối với các quyết định và hành vi của cơ quan công quyền có tác dụng làm giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, trốn tránh trách nhiệm trong bộ máy hành chính nhà nước.

Năm là, nâng cao năng lực của công dân trong việc sử dụng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng.

Tiếp tục nâng cao dân trí và ý thức pháp luật, sự hiểu biết pháp luật cho người dân. Đây là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tri thức, ý thức pháp luật, sự hiểu biết pháp luật, tình cảm, thái độ đối với pháp luật và hành vi của các cá nhân con người có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho họ, giúp họ biết sống và làm việc theo pháp luật, nhận thức được về quyền, biết tôn trọng quyền của người khác, biết bảo vệ quyền của mình khi bị xâm hại. Cần tạo thói quen tuân thủ pháp luật và đề cao trách nhiệm của công dân; củng cố niềm tin của công dân vào pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật.

Sáu là, tăng cường sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực.

Sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực có mối quan hệ với việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Điều đó đòi hỏi phải bổ sung vào Quy chế Dân chủ ở cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí hiện đại về sự tham gia của người dân vào quản trị quốc gia, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực. Người dân và các tổ chức cần được tạo đầy đủ cơ hội để tham gia vào hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật. Đây là điều kiện bảo đảm dân chủ trong pháp luật ngay từ khâu xây dựng, ban hành, bảo đảm những tiêu chuẩn về tính công khai, minh bạch ngay từ khi mới hình thành ý tưởng chính sách. Sự tham gia phản biện chính sách, pháp luật của người dân cũng là điều kiện bảo đảm cân bằng các loại lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, tránh “nhóm lợi ích” thao túng, tham nhũng chính sách.

Để góp phần tăng cường sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực, cần thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện, mất đoàn kết kéo dài trong nhân dân. Thường xuyên kiểm tra, lấy ý kiến góp ý của người dân về cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công việc. Xử lý nghiêm những cán bộ, công chức có hành vi sách nhiễu, hách dịch người dân, vô trách nhiệm trong công việc; kịp thời khen thưởng cán bộ, công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bố trí lịch tiếp dân, địa điểm tiếp dân thật chu đáo. Tiếp tục triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính. Chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật, nhân lực để có thể xây dựng chính quyền điện tử tới cấp xã.

Một số điều kiện cơ bản bảo đảm sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực ở nước ta hiện nay theo hướng bền vững và hiệu quả là: điều kiện về khung khổ chính sách, pháp luật; điều kiện về bảo đảm cung cấp thông tin, pháp luật, kiến thức cần thiết; điều kiện về bảo đảm sự minh bạch, công khai.

Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ trách nhiệm giải trình, đối thoại giữa các cơ quan nhà nước và xã hội, giữa đơn vị, tổ chức xã hội với các thành viên. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể nhân dân đối với việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực.

Đổi mới cách thức, nội dung phổ biến, giáo dục về sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực. Tạo lập, nuôi dưỡng niềm tin bền vững trên cơ sở cân bằng lợi ích, bảo đảm lợi ích trong việc tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực.

Bảy là, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về khiếu nại của công dân.

Bảo đảm quyền khiếu nại của công dân sẽ góp phần quan trọng vào việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực, trong sạch hóa bộ máy nhà nước. Việc tăng cường hoạt động bảo đảm quyền khiếu nại của công dân phải dựa trên nhận thức đúng về mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, phải được tiến hành đồng thời với quá trình dân chủ hóa.

Cần xây dựng hệ thống pháp luật về khiếu nại đầy đủ, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống quy phạm pháp luật về khiếu nại nói riêng. Hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, giám sát của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với việc bảo đảm quyền khiếu nại của công dân. Xây dựng, thực hiện chế độ trách nhiệm đối với việc bảo đảm quyền khiếu nại và xử lý nghiêm minh các vi phạm quyền khiếu nại của công dân. Đồng thời, nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là các cán bộ, công chức thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến việc bảo đảm quyền khiếu nại của công dân. Đây là giải pháp có tính chất quyết định.

Tám là, gắn chặt thực hành dân chủ với thực hành đại đoàn kết, xây dựng xã hội đồng thuận, đồng thời đẩy mạnh học tập và làm theo theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minhnhất là phong cách dân chủ, gần dân, tin dân, trọng dân, thương dân, vì dân của Người.

Theo đó, cần đề cao thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: chống chủ nghĩa cá nhân như chống “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất. Chú trọng nêu gương, bởi “một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”, thực hiện “lời nói đi đôi với việc làm”. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng pháp luật, gương mẫu thi hành pháp luật và Điều lệ Đảng, thực hiện đúng những điều đảng viên không được làm để bảo đảm sự nghiêm minh, chặt chẽ của pháp chế, kỷ luật và kỷ cương xã hội./.

Theo PGS, TS. VŨ TRỌNG LÂM/Tạp chí Cộng sản

------------------

(1) Xem: Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Đồng chủ biên): Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ  năm 1986 đến nay (xuất bản lần thứ ba), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 205
(2) Xem: Hoàng Chí Bảo (Chủ biên): Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 158
(3) Xem: Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Đồng chủ biên): Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ  năm 1986 đến nay, Sđd, tr. 205
(4) Xem: Vũ Trọng Lâm: “Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 957, tháng 1-2021, tr. 42
(5) Ngày 16-9-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 32-QĐ/TW, “Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” (thay thế Quy định số 211-QĐ/TW, ngày 25-12-2019, của Bộ Chính trị, “Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng”). Việc đổi tên và bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chỉ đạo phòng, chống tiêu cực của Ban Chỉ đạo là bước tiến mới, mạnh mẽ hơn trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn từ gốc những biểu hiện tiêu cực để ngăn ngừa từ xa các hành vi tham nhũng.
(6) Xem: Susan Rose - Ackerman: Corruption and Government - Causes, Consequences, and Reform, (Tạm dịch: “Tham nhũng và quản trị: Nguyên nhân, hệ lụy và cải cách”), Cambridge University Press, 1999, tr. 200 - 201.

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Tin liên quan

Cùng chuyên mục