Video Mostread

Tọa đàm khoa học: “Những ý kiến tâm huyết với bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”

Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Bài viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, phản ánh cả tầm tư tưởng - lý luận và định hướng thực tiễn; có tác động to lớn, sâu rộng đến tư tưởng, tình cảm, hành động của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Kính thưa các nhà khoa học, quý vị đại biểu!

 
 
 
Bài viết dù đặt tiêu đề rất khiêm tốn là “Một số vấn đề” nhưng thực ra đề cập những vấn đề rất rộng lớn, rất cơ bản và sâu sắc ở tầm tư tưởng - lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó vừa là tiền đồ, tương lai phải định hướng để đạt được, vừa là hiện thực phải định hình từng bước trong mỗi bước đi của công cuộc đổi mới.

Một trong những điểm nhấn của bài viết là đưa ra những lý lẽ sâu sắc, luận cứ thuyết phục về tính tất yếu thay thế của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản. Lựa chọn con đường lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, là giải pháp đúng đắn để mang lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Sự nghiệp đổi mới phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bởi chủ nghĩa xã hội không chỉ mang lại độc lập cho dân tộc, mà còn là con đường duy nhất đúng đắn để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thế giới đang chịu nhiều tác động tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, của các nền dân chủ đa nguyên, khiến bất công xã hội ngày càng gia tăng, xung đột xã hội bùng nổ ở nhiều nước, suy thoái môi trường diễn ra nghiêm trọng. Chủ nghĩa tư bản tự nó không thể giải quyết được các vấn nạn, các khuyết tật nêu trên - bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh sâu sắc điều này - mà đó là vấn đề phi chủ nghĩa tư bản, tức là vấn đề của chủ nghĩa xã hội. Không ít người đã từng say sưa với chủ nghĩa tự do, nhưng sự thật trần trụi được phơi bày đã làm phản tỉnh họ, nhất là trong cuộc khủng hoảng y tế lần này hay các cuộc bầu cử gây chia rẽ xã hội, đánh mất lòng tin của cử tri trong các nền dân chủ đa đảng hay lưỡng đảng, gây nên các xung đột làm rạn nứt các kết cấu xã hội, đánh rơi mặt nạ “dân chủ” mà các lý luận gia tư sản luôn rêu rao và tìm cách “xuất khẩu dân chủ”.

Trong bài viết này, đồng chí Tổng Bí thư đã làm rõ những vấn đề cốt lõi của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta kiên định trong quá trình đổi mới. Có thể ở các văn kiện, tài liệu khác đã đề cập những nội dung này, nhưng tiếp cận dưới góc độ một bài báo, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích các vấn đề cốt lõi đó bằng lập luận khoa học, thuyết phục, kể cả phản bác đanh thép, sắc bén những luận điệu xuyên tạc, sai trái về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Bài viết nhấn mạnh rằng, phát triển kinh tế thị trường phải gắn liền với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi kinh tế thị trường có vai trò trong phân bổ hiệu quả nguồn lực, phát triển lực lượng sản xuất, nhưng mặt trái của kinh tế thị trường là phân hóa giàu nghèo, gây nên các bất công xã hội, bỏ rơi những người kém may mắn, chạy theo lối sống sùng bái vật chất, hình thành “nhóm trục lợi” xem đồng tiền là tối thượng mà bất chấp đạo lý, sẵn sàng hy sinh lợi ích công cộng. Định hướng xã hội chủ nghĩa chính là phát huy mặt tích cực và hóa giải, giảm thiểu mặt tiêu cực của thị trường, gắn với phát huy đầy đủ vai trò nhà nước và xã hội. Đây là cơ sở rất quan trọng cho phân tích, đánh giá tình hình và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho từng giai đoạn phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ, tránh các biểu hiện chủ quan, nóng vội, duy ý chí, đốt cháy giai đoạn hoặc xa rời, chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Bài viết lưu ý rằng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, hoàn thiện không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ, hoàn chỉnh. Phải nhận thức đầy đủ khái niệm định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cơ chế thị trường. Định hướng xã hội chủ nghĩa là làm cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa luôn được quản trị, giữ vững trong quá trình đổi mới đất nước; làm cho nhân tố xã hội chủ nghĩa, những cái tốt đẹp luôn giữ vai trò chủ đạo, lớn dần lên trong quá trình cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa.

Cùng với vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa là định hình chủ nghĩa xã hội, tức phải làm cho bản chất tốt đẹp, giá trị của chủ nghĩa xã hội được hiện thực hóa trong đời sống hằng ngày mà người dân được thụ hưởng gắn với điều kiện, lộ trình cụ thể. Đó chính là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tăng trưởng kinh tế phải gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển, không được hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội cho tăng trưởng kinh tế.

Trên quan điểm duy vật biện chứng, bài viết đã làm rõ đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội gắn với yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, được phân biệt với đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở dạng hoàn chỉnh. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, giúp không ít người khắc phục những nhầm lẫn giữa mục tiêu hướng tới và các biện pháp trung gian quá độ, nhất là khắc phục các biểu hiện nóng vội, chủ quan, duy ý chí lấy các đặc trưng chế độ xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh trong tương lai bắt hiện thực phải khuôn theo.

Kính thưa các nhà khoa học, quý vị đại biểu!

Tọa đàm khoa học: Những ý kiến tâm huyết với bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng” do Tạp chí Cộng sản tổ chức là dịp để chúng ta cùng nhau bày tỏ những ý kiến tâm huyết của mình đối với bài viết, đồng thời bàn luận, phân tích để làm sâu thêm về nội dung của bài viết quan trọng này, từ đó cung cấp những thông tin bổ íchcó ý nghĩa rất quan trọng giúp các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc hơn đường chúng ta đi, đích chúng ta đến để rèn thêm bản lĩnh, làm tròn trách nhiệm cao nhất, tuyệt đối không được dao động, ngả nghiêng.

Ban Tổ chức tọa đàm trân trọng đề nghị các nhà khoa học, các vị đại biểu từ kết quả nghiên cứu của bản thân, từ kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, cùng trao đổi, thảo luận một số nội dung chủ yếu:

Thứ nhất, những nhận thức lý luận chung về bản chất, đặc trưng, tính tất yếu, tính ưu việt… của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, qua bài viết của đồng chí Tổng Bí thư.

Để tránh rơi vào chủ quan duy ý chí, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý rằng, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Do đó, cần phòng ngừa bệnh “tả khuynh” hoặc “hữu khuynh” thường gặp trong thời kỳ quá độ ra sao? Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phủ định sạch trơn hay cần kế thừa có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được?...

Thứ hai, những vấn đề cụ thể đã được làm sáng rõ ra sao qua bài viết của đồng chí Tổng Bí thư, trên các mặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tính ưu việt, những giá trị tiến bộ, nhân văn và việc xây dựng xã hội, văn hóa, con người xã hội chủ nghĩa; bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa?…

Thứ ba, những công việc tiếp theo cần được tiến hành bài bản, gồm cả nghiên cứu lý luận và tổ chức thực tiễn, để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt là việc cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, định hướng, chỉ dẫn của đồng chí Tổng Bí thư; nâng cao trách nhiệm mỗi tổ chức và cá nhân; tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra.

Kính thưa các nhà khoa học, quý vị đại biểu!

Trong quá trình chuẩn bị và tổ chức tọa đàm, Ban Tổ chức nhận được sự ủng hộ và nhiều ý kiến tâm huyết, kiến giải sâu sắc của các nhà khoa học, nhà lãnh đạo, quản lý đối với bài viết quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư. Sau tọa đàm hôm nay, Ban Tổ chức mong muốn tiếp tục nhận được các ý kiến quý báu, tâm huyết của đông đảo bạn đọc gửi về cho Tạp chí Cộng sản, để chúng ta cùng hiểu sâu sắc thêm, cùng thống nhất và đồng thuận thực hiện những chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư gửi gắm trong bài viết.

Thay mặt Ban Tổ chức tọa đàm, xin kính chúc toàn thể các đồng chí sức khỏe, thành công! Chúc tọa đàm thành công tốt đẹp!

Xin trân trọng cảm ơn!

 
Chủ tọa: Bài viết của Tổng Bí thư làm sáng rõ và gợi mở nhiều nhận thức lý luận mới về bản chất, những đặc trưng, tính tất yếu,… của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, xin các vị khách mời làm rõ thêm những nội dung trên.

GS, TS. Phùng Hữu Phú: Về những đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập và luận giải sâu sắc, thuyết phục về nhiều vấn đề cơ bản trong đường lối cách mạng của Đảng ta, nổi bật là vấn đề thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bài viết nhấn mạnh tính tất yếu và những đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thể hiện ở một số nội dung cốt lõi:

Một là, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đó là mục tiêu, lý tưởng mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; mục tiêu cao cả đó phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển tất yếu của thời đại.

Hai là, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình biến đổi cách mạng lâu dài, gian khổ, bởi lẽ đây là quá trình “kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất”, “phải tạo sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ của lực lượng sản xuất rất thấp; lại trải qua mấy chục năm chiến tranh ác liệt để lại hậu quả nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên chống phá..., do vậy thời kỳ quá độ càng lâu dài, khó khăn hơn.

Ba là, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cùng tồn tại đan xen, đấu tranh gay go, phức tạp, quyết liệt giữa các nhân tố xã hội chủ nghĩa và các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, trong đó có nhân tố tư bản chủ nghĩa, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Bốn là, quá độ lên chủ nghĩa xã hội “là một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”.

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc với nhân dân thôn Thượng Điện, xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, ngày 15-11-2017 _Ảnh: Tư liệu
PGS, TS. Đỗ Thị Thạch: Có thể khẳng định, tư tưởng bao trùm trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là tập trung làm rõ hai câu hỏi: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lại đi lên chủ nghĩa xã hội?

Câu hỏi thứ hai đã được Tổng Bí thư làm rõ trong luận điểm: Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Sự lựa chọn này không phải là nhất thời, mà ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, kể cả khi phải trải qua những thời điểm khó khăn, cam go đối với vận mệnh của dân tộc và cách mạng Việt Nam, thì chúng ta vẫn kiên định, kiên trì với mục tiêu duy nhất, trước sau như một là đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, ngay trong Cương lĩnh năm 1930, Đảng khẳng định: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”. Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu rơi vào khủng hoảng và đổ vỡ vào những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng ta tiếp tục kiên định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đặc biệt, trong Cương lĩnh tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng, chúng ta một lần nữa khẳng định quyết tâm: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"; quan điểm chỉ đạo đầu tiên của Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn tới là “… kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Như vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng, đây là sự lựa chọn hết sức khoa học, có căn cứ lý luận và thực tiễn trong nước và thế giới, lịch sử và hiện tại, đã đáp ứng đúng khát vọng của nhân dân Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Điều này được quy định bởi các lý do sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mà con người được tự do, sống hòa bình và hữu ái giữa các cộng đồng, không còn áp bức, bóc lột, bất công, một xã hội thực sự vì con người. Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, đây là một xã hội “… phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội…, nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn…, phát triển bền vững, hài hòa để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai”; là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Rõ ràng, đây là những khát vọng, mong ước tốt đẹp cháy bỏng không chỉ của nhân dân Việt Nam mà của cả nhân loại đều hướng đến.

Thứ hai, đường lối xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”; và “chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể giải quyết căn cơ vấn đề độc lập cho dân tộc và cuộc sống tự do, hạnh phúc cho số đông nhân dân”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là những thành tựu của 35 năm đổi mới giúp “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” là minh chứng hùng hồn và thuyết phục, tự nó khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam, là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn đối với tương lai của dân tộc Việt Nam.

Thứ ba, hiện nay, chủ nghĩa tư bản, nhất là ở một số nước tư bản phát triển, đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học và công nghệ; có sự điều chỉnh nhất định về sở hữu, an sinh xã hội… làm cho diện mạo của chủ nghĩa tư bản khác nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”. Các cuộc khủng hoảng về nhiều mặt tiếp tục diễn ra “đang đặt ra nhiều thách thức vô cùng to lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại”. Nhân dân Việt Nam không cần một xã hội đầy rẫy bất công, “không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái”. Chúng ta cần một xã hội “mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người…”.

 
Thứ tư, khủng hoảng và đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, theo ý kiến của Tổng Bí thư trong bài viết, không phải là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin như những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị, kể cả sự phụ họa của một số người bi quan, dao động trong hàng ngũ cách mạng. Tất cả những người cộng sản chân chính đều thấy rõ nguyên nhân chủ yếu của sự kiện này xuất phát từ việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách máy móc, thiếu sáng tạo, thậm chí sai lầm, đặc biệt là sự phản bội lý tưởng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội một cách trắng trợn, sự thoái hóa, biến chất trầm trọng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu của một số đảng cộng sản ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu khi đó.

Chủ tọa: Rõ ràng, bản chất vị kỷ vì lợi ích của chỉ riêng giai cấp tư sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa càng làm chúng ta thấy rõ thêm tính ưu việt trong bản chất của chủ nghĩa xã hội, thưa PGS, TS. Lưu Ngọc Khải?

PGS, TS. Lưu Ngọc Khải: Đúng vậy. Tôi rất tâm đắc với các nội dung thể hiện trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhất là về bản chất của chủ nghĩa xã hội. Về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tổng Bí thư khẳng định, Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực sự vì lợi ích của nhân dân lao động, chứ không phải vì lợi nhuận và chà đạp lên phẩm giá con người như trong xã hội tư bản.

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Bản chất kinh tế của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổng Bí thư cho rằng đó là “bước tiến đột phá về lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới về kinh tế thị trường, vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, vì kinh tế thị trường là giá trị chung của nhân loại đạt được trong chế độ tư bản chủ nghĩa, không phải là giá trị riêng có của giai cấp tư sản.

Bản chất chính trị của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa, với nội hàm quan trọng nhất là tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, với “mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân là chủ”, như Tổng Bí thư khẳng định. Sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà nước pháp quyền tư sản là “pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân”. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam.

Bản chất xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng là xã hội phát triển hài hòa, tiến bộ, công bằng vì con người. Trong bài viết, Tổng Bí thư khẳng định ở những nước tư bản thường diễn ra những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã lan tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội ngày càng trầm trọng… Trong khi đó, chúng ta không chạy theo kinh tế đơn thuần và bằng mọi giá, mà luôn luôn gắn kết hài hòa với yếu tố xã hội, bảo đảm lợi ích chân chính của nhân dân lao động. Điều đó có nghĩa là, không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trong điều kiện nền kinh tế của chúng ta còn đang phát triển, gặp nhiều khó khăn, song Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng thực hiện các chính sách xã hội, an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế…

Mỗi chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta đều thấm đượm và gắn chặt với chính sách xã hội, coi trọng và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vì một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, khuyến khích nhân dân làm giàu. Trong xã hội của ta, con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới… Đó chính là những điều thể hiện rõ tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa mà cả dân tộc ta đang chung sức, đồng lòng xây dựng, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng.

 
Chủ tọa: Xin GS, TS. Phùng Hữu Phú cho biết việc phòng ngừa bệnh “tả khuynh” hoặc “hữu khuynh” thường gặp trong thời kỳ quá độ?

GS, TS. Phùng Hữu Phú: Những đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta được nhấn mạnh trong bài viết của Tổng Bí thư là căn cứ khoa học quan trọng giúp cho việc phòng ngừa các căn bệnh tư tưởng dễ mắc trong bước chuyển của cách mạng, trong đó có bệnh “tả” hoặc “hữu khuynh”.

Phòng ngừa các biểu hiện “tả” hoặc “hữu khuynh” trên nền tảng kiên định, không ngừng đổi mới, sáng tạo; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia mạnh mẽ của nhân dân.

 
Để phòng tránh những tật bệnh này, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư nhấn mạnh tư duy và phương pháp biện chứng trong xây dựng đất nước. “Phải luôn luôn kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”; đồng thời phải không ngừng sáng tạo, làm cho “chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống” bằng cách chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học của nhân loại. Phải lựa chọn các bước đi, các hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen, phù hợp; xem xét tỉnh táo, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống nảy sinh, làm cho các nhân tố xã hội chủ nghĩa “ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng”, trở thành xu hướng chủ đạo trong đời sống kinh tế - xã hội.

Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới với “tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới”, gắn bó chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Đường lối đúng đắn, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhân tố quyết định thành công sự nghiệp xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sức mạnh sáng tạo, sự ủng hộ mạnh mẽ, tham gia tích cực của nhân dân là “cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”.

 
Chủ tọa: Ý kiến của PGS, TS. Đỗ Thị Thạch có đề cập đến những mâu thuẫn mang tính bản chất không thể khắc phục được của chủ nghĩa tư bản, xin GS, TS. Vũ Văn Hiền có thể làm rõ hơn về những mâu thuẫn nan giải của chủ nghĩa tư bản ngày nay?
Cảnh sát ngăn người biểu tình quá khích đột nhập vào trụ sở Quốc hội Mỹ ở Washington, DC ngày 6-1-2021 _Ảnh: AFP/TTXVN 
GS, TS. Vũ Văn Hiền: Cho dù chủ nghĩa tư bản ngày nay có những điều chỉnh, biểu hiện mới trong hình thức quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối nhưng vẫn không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó, gồm: (1) Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động. Quy luật bóc lột giá trị thặng dư vẫn luôn là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, dù được biểu hiện dưới những hình thức tinh vi hơn, khiến sự phân cực giàu nghèo và tình trạng bất công xã hội ngày càng tăng lên trong xã hội tư bản. Theo đó, cả sự bần cùng hóa tuyệt đối lẫn tương đối của giai cấp công nhân vẫn đang tồn tại. Trong xã hội tư bản ngày nay, sự bất bình đẳng, tệ phân biệt chủng tộc, tình trạng bất công, sự suy đồi về xã hội, văn hóa và đạo đức, các tệ nạn xã hội, tội ác và bạo lực… cũng ngày càng trầm trọng. (2) Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc. Ngày nay, mâu thuẫn này đang chuyển thành mâu thuẫn giữa các nước chậm phát triển bị lệ thuộc với những nước đế quốc. (3) Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau, chủ yếu là giữa các trung tâm kinh tế, chính trị hàng đầu của thế giới tư bản, giữa các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia. (4) Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Mâu thuẫn này tồn tại một cách khách quan và là mâu thuẫn xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nó biểu hiện rõ trong mưu đồ của các thế lực đế quốc lợi dụng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và một số nước Đông Âu để đẩy mạnh những cuộc phản kích bằng mọi thủ đoạn nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Ngày nay, tuy hình thức biểu hiện có những điểm khác trước đây, song đây luôn là cuộc đấu tranh quyết liệt, mang tính sống còn…

Những mâu thuẫn này là nan giải, bởi chủ nghĩa tư bản từ khi ra đời đến nay dù gắng gượng có sự điều chỉnh để thích nghi với bối cảnh mới và để tiếp tục tồn tại, nhưng vẫn không thể khắc phục được những căn bệnh cố hữu của nó. Bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản không che đậy được những ung nhọt và xấu xa bên trong nó.

Ngay cả một số nước trên thế giới từng từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa để đi theo con đường chủ nghĩa tư bản, thì đã qua 30 năm, những nước này vẫn phải đối mặt thường xuyên với sự bất ổn về chính trị, những khó khăn chồng chất về kinh tế - xã hội…, khiến nhiều người thấy nuối tiếc những năm tháng trước đây, khi còn hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Thấy rõ những mâu thuẫn bản chất nan giải của chủ nghĩa tư bản để càng thấm thía hơn, hiểu rõ hơn vì sao chúng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bởi, “chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội... Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một ít cá nhân và các phe nhóm”, như bài viết của GS, TS. Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định.

Những thành tựu to lớn đơm hoa kết trái từ thực hiện đường lối đổi mới của đất nước ta, với những kết quả rất cụ thể, mọi người dân đều cảm nhận được và được thụ hưởng những thành quả đó, càng là minh chứng cho đường lối phát triển đúng đắn của Đảng ta, đồng thời là cơ sở thực tiễn phản bác một cách thuyết phục, đanh thép các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng - một Đảng hội đủ năng lực, uy tín, dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo; tuyệt đối không có một lực lượng chính trị nào có thể thay thế được - tiếp tục lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng của Việt Nam đến bến bờ phồn vinh, hạnh phúc.

 
Chủ tọa: Bản chất của Đảng ta và ý nghĩa của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thể hiện thế nào qua bài viết của Tổng Bí thư, thưa PGS, TS. Nguyễn Văn Giang?

PGS, TS. Nguyễn Văn Giang:Về bản chất của Đảng, bài viết của Tổng Bí thư trình bày một số điểm quan trọng, trong đó tập trung luận giải vì sao Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Bài viết khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam”, tức là trước hết, trên hết, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, mang bản chất của giai cấp công nhân, phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân Việt Nam. Tuy nhiên, đặc thù của giai cấp công nhân Việt Nam “là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc’’,  nên một cách tự nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam “ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”.

 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ra mắt Đại hội _Ảnh: TTXVN
Nếu như ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, đảng cộng sản ra đời, tồn tại và phát triển cơ bản là từ sự phát triển của phong trào công nhân, vì lợi ích của giai cấp công nhân, thì ở Việt Nam, Đảng Cộng sản ra đời, tồn tại và phát triển trước hết lại từ yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân bị nô lệ, mà trong đó giai cấp công nhân là một bộ phận. Dưới lá cờ của Đảng, để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân, cả dân tộc ta với tất cả các giai tầng xã hội yêu nước đã đứng lên chiến đấu, hy sinh để giành độc lập, thống nhất non sông, đưa nhân dân lên địa vị người chủ đất nước. Đảng ta được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình.
 
Cần lưu ý là xung quanh vấn đề bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam, có 2 câu hỏi thường gặp: Một là, ở Việt Nam, giai cấp công nhân chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số, phần đông đảng viên không xuất thân từ công nhân, tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam lại là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân được? Hai là, nói Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam có phải làm cho Đảng ta trở thành Đảng “phi giai cấp”, “đảng toàn dân”?

Bài viết của Tổng Bí thư đã giải đáp cả hai vấn đề này:

Thứ nhất, nói Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam “không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc”. Và xin nhớ lại thêm một lý do từ sự giải thích của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (năm 1951) về diễn đạt này: “Nói Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, không phải làm cho Đảng biến thành một khối liên minh giai cấp mà cốt là để:

- Tất cả các tầng lớp nhân dân lao động thành thị và thôn quê, chân tay và trí óc ở Việt Nam đều nhận Đảng Lao động Việt Nam là đảng của mình;

- Định rõ hướng để kết nạp đảng viên mới là: công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”.

Thứ hai, bài viết đã trả lời câu hỏi thứ nhất đó là vì sao và làm thế nào để Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là đảng mang bản chất giai cấp công nhân khi phần đông đảng viên của Đảng không xuất thân từ công nhân với đoạn viết khẳng định: “Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”. Cũng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (năm 1951), Đảng ta đã giải thích: Đảng Lao động Việt Nam Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Song thực chất, Đảng Lao động Việt Nam vẫn là đảng của giai cấp công nhân, vẫn là đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, vì Đảng Lao động Việt Nam có đủ những tính chất căn bản của một đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân: 1- Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng; 2- Đảng lấy dân chủ tập trung làm nguyên tắc tổ chức; 3- Đảng lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển. Ngoài ra, Đảng có một Chính cương xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kết hợp với thực tiễn Việt Nam. Đảng lại luôn luôn mật thiết liên hệ với quần chúng. Như vậy, rõ ràng, dù phần đông đảng viên của Đảng không xuất thân từ công nhân nhưng luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân thì Đảng vẫn mang đậm bản chất giai cấp công nhân.

Về ý nghĩa của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bài học lớn của thực tiễn cách mạng Việt Nam được ghi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ban hành năm 1991 là: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Theo lô-gíc tự nhiên thì sự lãnh đạo của Đảng cũng là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới hiện nay. Bài viết của Tổng Bí thư đã khẳng định nhận thức về quy luật này và đi đến kết luận quan trọng: “Chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Tính đặc biệt của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay xuất phát từ nhiều lý do, trong đó cần chú ý là:

- Theo quy luật, tổ chức nào cũng chịu sự chi phối của quy luật vòng đời tổ chức, tức là có sinh ra - phát triển - và thoái hóa, không có tổ chức vĩnh cửu. Muốn kéo dài sự tồn tại, phát triển của tổ chức thì phải thường xuyên, nỗ lực đổi mới, tái tổ chức. Đảng cũng là một tổ chức nên muốn tồn tại phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

- Công cuộc đổi mới có tính cách mạng với không ít khó khăn và những thách thức mới mẻ, nghiêm trọng, nếu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không được coi trọng đúng mức, Đảng không đủ trí tuệ, năng lực, phẩm chất thì không thể lãnh đạo giải quyết được, thậm chí có thể sẽ phạm những sai lầm không thể sửa chữa, mà Đảng Cộng sản Liên Xô là một bài học nhãn tiền vẫn nóng hổi.          

- Tham nhũng là một “căn bệnh ung thư” gắn liền với tha hóa quyền lực và có thể sẽ hủy hoại tất cả. Thực tiễn đổi mới vừa qua cho thấy, có lúc tuy bước đầu đẩy mạnh được phát triển kinh tế nhưng do công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không được thật sự chú trọng, hiệu quả; tham nhũng không được ngăn chặn, đẩy lùi, mà còn diễn biến phức tạp, lan vào mọi lĩnh vực, mọi cấp, không chỉ gây thiệt hại đặc biệt lớn về kinh tế mà còn làm triệt tiêu dần động lực phát triển để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đe dọa sinh mệnh của Đảng, của chế độ. Do đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, chống tiêu cực, giữ gìn sự trong sạch của hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quyết định tới thắng lợi của cách mạng nước ta trong bối cảnh hiện nay.

Thực tiễn đó càng cho thấy thêm sự đúng đắn của luận điểm lớn trong bài viết: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”./. 

Theo Tạp chí Cộng sản

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Tin liên quan

Cùng chuyên mục