Video Mostread

Phát huy vai trò giám sát của MTTQ Việt Nam góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước

(Mặt trận) - Xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó có vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thực hiện vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng phát triển, không chỉ mở rộng phạm vi hoạt động giám sát trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, tham gia công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, mà đã đi vào những vấn đề xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, có nhiều chuyển biến tích cực, tiến bộ, thực chất và hiệu quả.
Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã ghi rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận”1; Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 9 đã quy định vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước.

Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Thứ nhất, vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần đầu tiên được đưa vào Nghị quyết của Bộ Chính trị về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc Thống nhất (Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 17/11/1993). Trong phần củng cố và mở rộng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nghị quyết chỉ rõ: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… tham gia xây dựng, giám sát, bảo vệ chính quyền… Các cơ quan nhà nước thể chế hóa trách nhiệm và quyền hạn của Mặt trận để Mặt trận thực sự là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nhất là tham gia quá trình bầu cử, xây dựng các chính sách và đạo luật, tham gia quản lý kinh tế - xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, các đại biểu dân cử và cán bộ, nhân viên nhà nước.

Từ nội dung Nghị quyết này cho thấy chủ trương, đường lối của Đảng về Mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân trong thời kỳ đổi mới, bao quát lại các vai trò rất rộng lớn là tham gia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ chính quyền.

Thứ hai, với chủ trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, khẳng định Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại hội IX (năm 2002) của Đảng đã đề ra chủ trương “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện sự giám sát của nhân dân đối với công tác và đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và các cơ quan nhà nước2. Như vậy, sau 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng đề ra chủ trương mở rộng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng Đảng với nội dung giám sát cả về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử.

Thứ ba, cũng trong chủ đề Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, Đại hội X (năm 2007) của Đảng đề ra chủ trương: “Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”3; đồng thời nghị quyết cũng chỉ rõ: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức cán bộ”4.

Văn kiện Đại hội X của Đảng là văn kiện đầu tiên Đảng đề ra chủ trương phát huy vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, ngày 12/12/2013, Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội kèm theo Quyết định số 217/QĐ-TW.

Như vậy, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, tư duy nhận thức của Đảng về phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng phát triển và được chỉ rõ vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với công tác giám sát và phản biện xã hội. Đây là cơ sở chính trị được Đảng đề ra trong Cương lĩnh và các văn kiện Đại hội của Đảng về chủ trương, đường lối phát huy dân chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành các quy chế, quy định về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, như: Quy định số 124/QĐ-TW ngày 2/2/2018 của Ban Bí thư về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nhà nước đã có nhiều quy định thành chính sách, pháp luật về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đó là lần đầu tiên quyền và trách nhiệm pháp lý về giám sát được quy định tại Điều 9 Hiến pháp năm 1992 với đối tượng giám sát là hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước.

Cụ thể hóa Hiến pháp, nhiều đạo luật chuyên ngành đã quy định quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Tính đến nay đã có hơn 40 luật và pháp lệnh có quy định quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Nhà nước cũng đã ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó có một chương về hoạt động giám sát với các quy phạm cụ thể về tính chất, mục đích, nguyên tắc, đối tượng, nội dung, hình thức giám sát.

Thực hiện quyền giám sát cũng đồng thời là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Đối tượng, nội dung, hình thức, mục đích giám sát trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, chính quyền địa phương

Đối tượng giám sát

Đối tượng giám sát là các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ sở bao gồm:

 - Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan đảng, cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp;

- Cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước (khoản 4 Điều 1 và Điều 5 Quyết định số 217/QĐ-TW của Bộ Chính trị);

- Người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên (Quy định số 124/QĐ-TW của Ban Bí thư).

Nội dung giám sát

- Việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) của cơ quan, tổ chức, cá nhân (khoản 2 Điều 5 Quyết định số 217/QĐ-TW của Bộ Chính trị);

- Các biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng (khoản 1 Điều 5 Quy định số 124/QĐ-TW của Ban Bí thư);

- Việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức công vụ và đạo đức nghề nghiệp của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cán bộ, đảng viên (khoản 2 Điều 5 Quy định số 124/QĐ-TW của Ban Bí thư).

Phương pháp và hình thức giám sát

Theo quy định tại Điều 7 Quyết định số 217/QĐ-TW của Bộ Chính trị và Điều 7 Quy định số 124-QĐ/TW của Ban Bí thư; Điều 27 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện giám sát với các phương pháp, hình thức sau đây:

Đối với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội

Một là, hàng năm, căn cứ vào tình hình thực tiễn, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát báo cáo cấp ủy và chính quyền cùng cấp trước khi triển khai. Khi cần thiết có thể tổ chức giám sát ngoài kế hoạch.

 Chương trình, kế hoạch giám sát được thống nhất với cơ quan quản lý nhà nước liên quan để hỗ trợ triển khai, bảo đảm giám sát thiết thực, đúng thực tế, có tác động tốt đối với đời sống chính trị, xã hội và nhân dân.

Hai là, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp thu ý kiến phản ánh của các thành viên, đoàn viên, hội viên, ý kiến của nhân dân, ý kiến của các chuyên gia và khảo sát thực tế để có cơ sở kiến nghị với cơ quan đảng, nhà nước, cấp ủy và chính quyền cùng cấp.

Ba là, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua các hình thức: Nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tổ chức đoàn giám sát; thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng; tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Bốn là, giám sát thông qua nghiên cứu văn bản, tài liệu, báo cáo của các cơ quan, tổ chức; đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh kiến nghị của các tổ chức, cá nhân gửi Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và qua phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng.

Đối với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân

Một là, thông qua việc quan sát, tìm hiểu, giao tiếp với người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên.

Hai là, thông qua việc tiếp nhận thông tin, báo cáo, phản ánh của các tổ chức, cá nhân, đoàn viên, hội viên và nhân dân, dư luận xã hội, cơ quan truyền thông đại chúng.

Mục đích giám sát

Theo quy định tại Điều 2 Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và khoản 2 Điều 25 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì mục đích giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là:

Thứ nhất, nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Thứ hai, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Thứ ba, kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị bổ sung, sửa đổi các chính sách cho phù hợp; phát hiện những quy định không phù hợp với thực tiễn, trái Hiến pháp, pháp luật để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, kiến nghị đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản đó; phát hiện có sự hiểu khác nhau về nội dung của văn bản hoặc một quy định nào đó, dẫn đến việc thực hiện khác nhau, thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật để việc thực hiện được thống nhất và chính xác; phát hiện những sai sót, khuyết điểm và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm, nếu có vi phạm.

Thứ tư, phát hiện, phổ biến nhân tố mới, những mặt tích cực, điển hình tiên tiến; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Thứ năm, giúp cho cá nhân, tổ chức nâng cao ý thức trách nhiệm, gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những quy định ở khu dân cư.

Thứ sáu, giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đóng trên địa bàn cấp xã nắm chắc hơn tình hình cán bộ, công chức, đảng viên thuộc diện mình quản lý về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, quan hệ với dân, trên cơ sở đó có hướng bồi dưỡng, sử dụng cán bộ tốt hơn; phòng ngừa những hành vi tiêu cực, quan liêu xa dân, thiếu trách nhiệm với dân; kịp thời giáo dục, xử lý những cán bộ, công chức, đảng viên có sai phạm, góp phần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là những cơ quan giải quyết những việc trực tiếp liên quan đến quyền lợi của người dân.

Thứ bảy, thông qua hoạt động giám sát, nâng cao vai trò và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Thực trạng hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Một là, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã thực hiện tốt việc triển khai thực hiện Quyết định số 217/QĐ-TW của Bộ Chính trị và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về công tác giám sát và phản biện xã hội. Hàng năm, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp chủ động việc chủ trì hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức chính trị - xã hội để thống nhất chương trình, kế hoạch giám sát hàng năm, khắc phục được sự trùng lặp về chương trình, nội dung, thời gian, địa bàn giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Hai là, các hoạt động giám sát, phản biện đã từng bước vào nền nếp từ khâu xây dựng chương trình, kế hoạch, trên cơ sở bám sát chương trình, kế hoạch của cấp ủy, chính quyền cùng cấp về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; xuất phát từ những vấn đề xã hội mà nhân dân quan tâm, bức xúc; từ yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của nhân dân để giám sát.

Nội dung giám sát đã tập trung giám sát việc thực hiện những chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ba là, về phương pháp và hình thức hoạt động giám sát, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các địa phương chủ yếu thực hiện hình thức tổ chức đoàn giám sát. Những năm gần đây các hình thức này đã được thực hiện ở tất cả các cấp trong nhiều tỉnh, thành phố, đem lại hiệu quả rõ nét.

Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp phát huy vai trò của các Hội đồng tư vấn, Ban tư vấn, Tổ tư vấn, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học trong các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để thực hiện giám sát.

Bốn là, nhiều kiến nghị sau giám sát ở một số địa phương có chất lượng tốt được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiếp thu, phản hồi, đem lại hiệu quả thiết thực; góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và góp phần tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Năm là, cấp ủy, chính quyền các cấp đã quan tâm ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp trong quá trình hoạt động giám sát; tạo cơ chế chính sách, kinh phí và điều kiện thuận lợi cho hoạt động giám sát ngày càng đi vào thực chất. Các cấp ủy, tổ chức đảng, các bộ, ngành, chính quyền và nhân dân đánh giá cao vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Sáu là, kết quả 5 năm qua, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ trì phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận thực hiện 12 chương trình giám sát. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương chủ trì giám sát 492.784 cuộc. Trong đó, cấp tỉnh giám sát 4.093 cuộc, cấp huyện giám sát 22.679 cuộc, cấp xã giám sát 466.012 cuộc.

Tuy nhiên, nhận thức về công tác giám sát, phản biện xã hội của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, công chức trong hệ thống Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong một số cấp ủy Đảng, chính quyền còn chưa nắm vững tính chất, mục đích, nguyên tắc, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động giám sát. Do vậy, trong quá trình tổ chức hoạt động giám sát còn gặp trở ngại, vướng mắc, nhất là trong khâu xây dựng kế hoạch giám sát hàng năm. Nhiều văn bản trả lời kiến nghị của cơ quan, tổ chức được giám sát còn chung chung hoặc chưa chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu tiếp thu và phản hồi kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cơ chế, chính sách, pháp luật về giám sát quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành rất nhiều, kể cả Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là chưa đầy đủ, chưa cụ thể, nhiều quy định còn mang tính khung, chủ yếu quy định quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, mà chưa có quy định chi tiết để thực hiện, kể cả những điều kiện bảo đảm, nên việc thực hiện còn khó khăn, tồn tại.

Một số địa phương chưa quan tâm vận dụng đồng đều 4 hình thức giám sát; mới chú trọng hình thức tổ chức đoàn giám sát và tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; chưa quan tâm đến việc giám sát theo hình thức nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Về nguyên tắc hoạt động giám sát chưa coi trọng việc bảo đảm sự tham gia của thành viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân và xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân để thu hút đông đảo đoàn viên, hội viên, nhân dân tham gia giám sát.

 Trình độ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ thực hành công tác giám sát còn hạn chế, chất lượng các văn bản kiến nghị sau giám sát còn chưa bảo đảm theo yêu cầu về nội dung, nhiều nơi còn hình thức; trong hoạt động giám sát ở một số nơi chưa thể hiện được bản lĩnh dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; vẫn còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong quá trình giám sát. Việc theo dõi giải quyết kiến nghị sau giám sát ở nhiều nơi chưa được chú trọng đôn đốc đến cùng, dẫn đến việc kiến nghị một chiều, hình thức, hiệu quả chưa cao, thậm chí không đánh giá được kết quả giám sát trong một vụ việc nhất định.

Giải pháp thực hiện trong thời gian tới

Về công tác tuyên truyền

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu, rộng trong toàn xã hội, nhất là trong hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, trong đoàn viên, hội viên và nhân dân về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó nêu rõ mục đích, tính chất, nguyên tắc, nội dung, hình thức giám sát, quyền và trách nhiệm của chủ thể giám sát, chủ thể được giám sát. Ngoài các hình thức tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cần phát hành các ấn phẩm, báo chí của Mặt trận đến khu dân cư, lồng ghép công tác tuyên truyền trong sinh hoạt của các tổ chức thành viên, trong sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, các hội nghị ở khu dân cư, ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về thể chế

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từng bước nghiên cứu đề xuất với Nhà nước các cơ chế, chính sách, pháp luật về giám sát để hoàn thiện đầy đủ thể chể về giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên, nhất là sớm ban hành Luật Giám sát của nhân dân, trong đó quy định đầy đủ cơ chế, chính sách về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân.

Về các chủ thể

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở địa phương đối với việc triển khai, hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện Quyết định số 217/QĐ-TW của Bộ Chính trị, Quy định số 124-QĐ/TW của Ban Bí thư về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị và nhân dân nhằm khắc phục dần những tồn tại trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên.

Kiến nghị Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp sớm ban hành các cơ chế, chính sách, pháp luật để từng bước hoàn thiện pháp luật về giám sát của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân, đồng thời quan tâm phối hợp hoạt động giám sát và tạo điều kiện, bảo đảm cho công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thiết thực và hiệu quả.

Về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phải thực hiện tốt vai trò chủ động, sáng tạo trong thực hiện công tác hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động trong xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát hàng năm; phối hợp giữa các tổ chức thành viên trong các hoạt động giám sát để thu hút sự tham gia của đoàn viên, hội viên và nhân dân. Chú trọng giám sát những nội dung liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, hội viên, đoàn viên và góp phần thiết thực xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế và giải pháp phát huy vai trò, trách nhiệm của các Hội đồng tư vấn, Ban tư vấn, Tổ tư vấn, các vị Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, cá nhân tiêu biểu, các chuyên gia, nhà khoa học; huy động sự tham gia của các cơ quan báo chí, truyền thông trong các hoạt động giám sát.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp kiện toàn, củng cố, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác Mặt trận về bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hành trong công tác giám sát.

Hàng năm, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội phải dự trù đầy đủ kế hoạch tài chính cho các chương trình, kế hoạch giám sát của tổ chức mình, của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng nhằm bảo đảm thực hiện tốt cho các hoạt động giám sát.

Chú thích:

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2011, tr. 87.

2. Văn kiên Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2005, tr. 672, 673.

3, 4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2006, tr.124, 135.

Đỗ Duy Thường

Ủy viên Đoàn Chủ tịch, nguyên Phó Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Tin liên quan

Cùng chuyên mục