Video Mostread

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong đời sống chính trị - xã hội, các đảng chính trị có vị trí, vai trò quan trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội. Vị thế, vai trò, tầm ảnh hưởng của các đảng chính trị có sự khác nhau tùy thuộc vào chính thể, cơ chế tổ chức quyền lực chính trị và văn hóa chính trị của mỗi quốc gia. Trải qua thực tiễn lãnh đạo đất nước qua các thời kỳ lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, phát triển về tư duy lý luận và năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trở thành một quốc gia ngày càng phát triển, góp phần khẳng định và nâng cao vị thế Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

 Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân (Trong ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân thôn Thượng Điện, xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) _Ảnh: TTXVN
Nhận thức chung về đảng chính trị và đảng cầm quyền

1. Đảng chính trị

Quá trình hình thành của đảng chính trị bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, đồng thời cũng là thời kỳ ra đời các hệ thống chính trị của các nhà nước tư sản non trẻ ở Tây Âu và Mỹ(1). Các tổ chức tiền thân của các chính đảng là các nhóm chính trị, các câu lạc bộ. Tại nước Anh, các tổ chức đảng được phôi thai từ thế kỷ XVII(2). Ở Pháp, sự phát triển của các nhóm nhỏ mà được coi là các đảng mới được hình thành, phôi thai từ cuộc cách mạng năm 1789(3)... Nhưng phải đến cuối thế kỷ XVIII, đảng chính trị mới xuất hiện. Ở Mỹ, Đảng Dân chủ xuất hiện năm 1792 với tư cách là một nhóm cử tri ủng hộ Thomas Jefferson trở thành Tổng thống năm 1801 (Đảng Cộng hòa ra đời muộn hơn, vào năm 1854).

Trong lịch sử phát triển của loài người, khi xã hội phân chia thành giai cấp thì xuất hiện mâu thuẫn về lợi ích giai cấp. Lịch sử đấu tranh giai cấp đã chứng minh rằng, đấu tranh giai cấp phát triển đến một trình độ nhất định thì các đảng chính trị mới có khả năng ra đời. Các đảng chính trị được xuất hiện trong cách mạng tư sản, trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện lịch sử mới, quyền lực nhà nước không còn nằm trong tay vua chúa và không được truyền cho con cháu theo nguyên tắc “cha truyền con nối”. Việc thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước được tiến hành bằng phương pháp bầu cử phổ thông, đầu phiếu.

Xét về phương diện tổ chức quyền lực nhà nước, đảng chính trị xuất hiện như là kết quả việc hạn chế quyền lực của nền quân chủ chuyên chế, của sự ra đời quyền bầu cử (thế kỷ XIX)(4). Trong bối cảnh đó, các lực lượng muốn chiếm giữ quyền lực và nhân rộng tầm ảnh hưởng trong xã hội cần phải bảo đảm cho mình sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng. Chính đảng chính trị đã trở thành công cụ hợp pháp để phản ánh quyền lợi của những nhóm cử tri khác nhau và để chọn lựa giới thượng lưu cho xã hội. Đây chính là những lý do khách quan cho sự ra đời của đảng chính trị.

Sự ra đời và phát triển của các chính đảng có liên quan chặt chẽ đến ba khái niệm cơ bản: quyền tồn tại của các nhóm khác nhau trong xã hội, quyền các nhóm được kiểm soát và chi phối lãnh đạo, hạn chế quyền của phái đa số cầm quyền(5). Biểu hiện tập trung, cụ thể và thiết thực của ba khái niệm đó là quyền giành quyền lực bằng con đường tuyển cử và bằng đấu tranh ở Quốc hội. Một số quốc hội ra đời sớm ngay khi còn chế độ quân chủ chuyên chế như Quốc hội Anh (giữa thế kỷ XIV), Quốc hội Pháp (giữa thế kỷ XV). Sự kiện đó đã phản ánh mối quan hệ thống trị, đấu tranh và hợp tác giữa nhà vua, quý tộc, tư sản và nông dân trong một thời gian tương đối dài trước khi có các cuộc cách mạng tư sản. Tại Hoa Kỳ, Quốc hội và Chính phủ đều ra đời qua thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và thiết lập chính quyền tư sản. Trong bối cảnh đó, các chính đảng dần dần ra đời và phát triển.

Trên thế giới đã có nhiều quan niệm về đảng chính trị, vừa có nét tương đồng, vừa có sự khác biệt, thậm chí khác nhau khá xa. Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã đưa ra định nghĩa về đảng chính trị từ phương diện một thuộc tính tiêu biểu của đảng chính trị, đó là vai trò của đảng trong các cuộc bầu cử để tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Theo đó, phạm trù đảng chính trị bao gồm những dấu hiệu sau(6):

Đảng tồn tại với mục đích nắm giữ quyền lực nhà nước. Đây là mục đích mang tính công khai, nhất quán đối với tất cả các đảng chính trị. Khác với những tổ chức khác hoạt động trên chính trường, đảng công khai đấu tranh vì những vị trí trong nghị viện và chính phủ. Vai trò, vị thế của các đảng chính trị được thể hiện ở sự tham gia tích cực vào đời sống chính trị ở mọi giai đoạn của hoạt động chính trị: tham gia vào các cuộc bầu cử, hình thành các cơ quan nhà nước, đưa các quyết định chính trị vào hoạt động của nhà nước và việc thực hiện chúng.

Phương thức giành quyền lực nhà nước của đảng chính trị là phương thức cạnh tranh trong bầu cử, là con đường hòa bình. Đây là phương thức được các chính trị gia phương Tây đề cao, bởi theo họ, đó là con đường chính trị ưu việt, phù hợp với tinh thần dân chủ cao nhất.

- Để trở thành một đảng chính trị, tồn tại và phát triển với vị thế là một đảng chính trị thì các tổ chức đảng chính trị phải có các yếu tố cấu thành: các đảng đều phải có hệ tư tưởng riêng, phải là một tổ chức có kỷ cương và phải được sự thừa nhận, điều chỉnh của luật pháp. B. Konstan đại diện cho trường phái bảo thủ ở Anh cho rằng, đảng phái là tập hợp những người theo những học thuyết chính trị giống nhau(7).

Nhà triết học chính trị Xôviết Anatôli Butenkhô đã đưa ra định nghĩa: “Chính đảng là tổ chức chính trị đoàn kết những đại diện tích cực nhất của một giai cấp xã hội nhất định (hay một nhóm xã hội) và thể hiện (trong cương lĩnh và các văn kiện khác) những lợi ích cơ bản của giai cấp đó. Chức năng quan trọng nhất của đảng là tìm ra những phương hướng và phương tiện thực hiện những lợi ích đó, là người tổ chức những hoạt động của giai cấp và của các đồng minh của nó”(8).

Trong lịch sử, không có một giai cấp cầm quyền nào mà lại tự nguyện từ bỏ quyền lực chính trị của giai cấp mình. Đấu tranh chính trị đòi hỏi giai cấp phải có mục tiêu chính trị rõ ràng, phải có tổ chức chặt chẽ để tập hợp lực lượng của giai cấp, để huy động lực lượng đồng minh đánh bại kẻ thù, giành thắng lợi. Các đảng chính trị ra đời là do đòi hỏi khách quan của cuộc đấu tranh chính trị giữa các giai cấp. Đảng là một tổ chức chính trị thể hiện lợi ích của giai cấp xã hội nhất định (các đảng công nhân, tư sản, nông dân, dân chủ cách mạng...). Đảng chính trị, về nguyên tắc, là tổ chức cao nhất, chặt chẽ nhất của giai cấp, tập hợp những người giác ngộ nhất về lợi ích giai cấp, kiên quyết nhất trong đấu tranh để bảo vệ lợi ích giai cấp khi chưa giành được quyền lực chính trị cũng như khi đã giành được quyền lực chính trị.

 Ngày 7-11-1917, Cách mạng Tháng Mười Nga toàn thắng, chính quyền về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời _Ảnh: Tư liệu
Vì vậy, mục tiêu quan trọng nhất của đảng chính trị là tập hợp lực lượng để thành đảng cầm quyền. Nếu không có mong muốn giành chính quyền thì không thể là đảng chính trị. Xét về nguyên tắc, mọi đảng chính trị đều mong muốn trở thành đảng cầm quyền. Sự tồn tại của một đảng gắn bó với cuộc đấu tranh để giành chính quyền, thỏa mãn những lợi ích giai cấp và đạt tới mục tiêu cuối cùng của nó là trở thành đảng cầm quyền. Khi trở thành đảng cầm quyền, đảng đứng ra thành lập chính phủ để thể hiện ý chí thống trị xã hội của giai cấp mình.

Để trở thành một đảng chính trị, thì đảng đó phải đạt được một số tiêu chuẩn nhất định. La Palombara, một trong những chuyên gia người Mỹ có uy tín về đảng phái học đã nêu bật bốn yếu tố cấu thành đảng:

Thứ nhất, đảng đó phải có hệ tư tưởng cho các hoạt động, mục tiêu tồn tại của mình. Các đảng phái về bản chất là người đại diện cho hệ tư tưởng hoặc ít nhất cũng phải thể hiện một định hướng nhất định về thế giới quan hoặc nhân sinh quan.

Thứ hai, đảng là một tổ chức, nghĩa là có một sự liên kết con người tương đối lâu dài theo thời gian của các thành viên (đảng viên) hợp thành, là một thiết chế mà nhờ đó đảng khác với các tập hợp quần chúng.

Thứ ba, mục tiêu của đảng là giành và thực hiện quyền lực nhà nước. Trong hệ thống đa đảng, tự thân đảng khó có thể trở thành đảng cầm quyền. Một trong những điều kiện cơ bản để trở thành đảng cầm quyền đó là đảng phải có chương trình vận động tranh cử, phải được nhân dân tín nhiệm.

Thứ tư, các đảng phái phải nỗ lực tranh thủ, thu hút sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân.

Từ cách tiếp cận trên, Quaermonne đưa ra định nghĩa về các đảng phái như sau: “Các đảng là lực lượng chính trị có tổ chức, liên kết công dân có cùng khuynh hướng chính trị nhằm động viên ý kiến về một số mục tiêu nhất định để tham gia vào các cơ quan quyền lực để hướng quyền lực đến chỗ đạt được những yêu cầu đó(9).

Chức năng của đảng chính trị được thể hiện trên những phương diện hoạt động cơ bản như sau(10):

- Động viên, tổ chức, hỗ trợ và lãnh đạo các tầng lớp xã hội đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của họ với yêu cầu cao nhất của đấu tranh là giành và giữ chính quyền.

- Xây dựng chính sách phù hợp, phản ánh nguyện vọng cụ thể của từng giới và thực hiện nhiệm vụ trung gian giữa chính quyền và nhân dân trong việc điều chỉnh chính sách trong từng giai đoạn.

- Việc thi hành và xây dựng chính sách chịu tác động qua lại của tình hình quốc tế, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, nên không thể chủ quan, duy ý chí.

- Khi một chính đảng trình bày chương trình và chính sách của mình cho nhân dân, chính đảng đó không thể không tính đến sự cạnh tranh của các chính đảng khác và yêu cầu của các giới để có thể tham gia vào chính quyền; do đó, cần phải điều chỉnh ý định, quan điểm, yêu cầu của mình.

- Việc tuyên truyền và thực hiện chính sách của một chính đảng còn có thể vấp phải sự chống đối và cạnh tranh của những thế lực trong từng khu vực và lĩnh vực của “các nhóm lợi ích và bộ máy viên chức”.

Trong hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa, các đảng chính trị có một vị trí rất quan trọng. Tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, vai trò của đảng chính trị có thể được ghi hay không được ghi trong hiến pháp. Ví dụ, Hiến pháp của Hoa Kỳ không ghi vai trò của đảng chính trị, nhưng Hiến pháp của Cộng hòa Liên bang Đức lại ghi rõ tại Điều 21, xác định nhiệm vụ của các đảng là “góp phần vào việc hình thành ý chí chính trị của nhân dân” và quy định việc ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho các đảng chính trị. Dù có được ghi hay không được ghi trong hiến pháp thì trong thực tế, các đảng chính trị tư sản vẫn được pháp luật các nước tư bản thừa nhận. Các đảng tư sản cầm quyền có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị tư sản, có tầm ảnh hưởng to lớn đến các chính sách đối nội và đối ngoại của quốc gia.

2. Đảng cầm quyền

Theo quan niệm chung, “đảng cầm quyền” là khái niệm dùng trong khoa học chính trị, chỉ một đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền để điều hành, quản lý đất nước nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp mình.

Vấn đề đảng cầm quyền trong quan niệm của thế giới thường gắn liền với chính thể nhà nước, cách thức bầu cử, tương quan lực lượng trong thành phần của nghị viện. Do vậy, khái niệm “đảng cầm quyền” không hoàn toàn giống nhau trong chính thể đại nghị và chính thể tổng thống. Một quan niệm chung, phổ biến trên thế giới hiện nay, đảng cầm quyền (ruling party) là đảng giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử dân chủ và cạnh tranh. Trên cơ sở đó, đảng đứng ra thành lập chính phủ và đưa các quyết định chính sách dưới danh nghĩa quyền lực nhà nước, đại diện cho nhân dân. Trong hệ thống nghị viện, đảng cầm quyền là đảng chính trị hoặc liên minh chính trị chiếm đa số ghế trong nghị viện.

Trong chính thể tổng thống, ứng cử viên tổng thống của đảng nào được người dân lựa chọn thông qua cuộc bầu cử, thì đảng đó được gọi là đảng cầm quyền. Như vậy, đảng cầm quyền là đảng của tổng thống, của người đứng đầu cơ quan hành pháp, chứ không phải đảng chiếm đa số trong quốc hội. Hai chủ thể quyền lực này được bầu ra theo những cách thức khác nhau. Trong tương quan quyền lực đó thì quyền lực của tổng thống trội hơn quyền lực của quốc hội. Đảng của tổng thống có thể chiếm đa số trong quốc hội, nhưng cũng có thể không(11).

Đảng cầm quyền cũng là thuật ngữ dùng để chỉ các đảng cộng sản ở những nước có duy nhất một đảng cầm quyền, đang nắm chính quyền để lãnh đạo cách mạng ở các nước đó như: Đảng Cộng sản Trung Quốc (dù nhiều đảng nhưng thực chất là một đảng cầm quyền), Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào...

Bản chất của đảng cộng sản cầm quyền là đảng lãnh đạo chính quyền và thông qua chính quyền để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; nhân dân làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội. Vấn đề chủ yếu đối với một đảng cộng sản cầm quyền là cầm quyền một cách khoa học, dân chủ và theo pháp luật trên cơ sở giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và quan hệ gắn bó máu thịt giữa đảng với nhân dân(12). Đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước nhưng không thể đồng nhất quyền lực của Đảng với quyền lực nhà nước. Quyền lực của đảng cầm quyền là quyền lực về chính trị, đề ra chủ trương, đường lối, còn quyền lực nhà nước là quyền lực quản lý xã hội trên cơ sở pháp luật.

Trong quá trình cầm quyền của đảng, việc tồn tại một đảng hay nhiều đảng ở mỗi nước là do những điều kiện lịch sử - cụ thể quy định, không có khuôn mẫu chung cho tất cả các nước, cũng như cho mọi giai đoạn, mọi thời kỳ trong phạm vi một nước. “Chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo đều có mặt ưu và nhược do điều kiện cụ thể mỗi nước, mỗi giai đoạn lịch sử quy định. Vấn đề là ở chỗ bản chất của đảng cầm quyền đó như thế nào? Phục vụ cho giai cấp, tầng lớp xã hội nào?”(13).

Ở Việt Nam, từ trước năm 1988, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chính quyền, còn có hai đảng tham chính: Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Hai đảng này đều do Đảng Cộng sản Việt Nam đứng ra vận động thành lập, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không phải là đảng đối lập. Năm 1988, hai đảng tuyên bố tự giải thể sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình(14), trên chính trường Việt Nam chỉ còn lại duy nhất một đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong văn bản chính trị và pháp lý ở Việt Nam, thuật ngữ được sử dụng phổ biến, chính thức là Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Khái niệm “đảng cầm quyền” được dùng như “đảng lãnh đạo” và vì vậy, “nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng” cũng được dùng như là nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội(15). Khái niệm “đảng cầm quyền” không loại trừ nội dung “Đảng lãnh đạo chính quyền” mà bao hàm trong đó. Không lãnh đạo chính quyền thì Đảng không cầm quyền được. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(16).

Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan, lãnh đạo Nhà nước và xã hội

Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng chính trị ra đời năm 1930, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” (17). “Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh” (18).

Lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

 Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập _Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong suốt quá trình cách mạng của dân tộc Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan, đáp ứng yêu cầu lịch sử của cách mạng và dân tộc Việt Nam. Thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Đảng ta đã khởi xướng đường lối đổi mới và lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực. Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng đã đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phù hợp xu thế thời đại vì một nước Việt Nam hội nhập và phát triển. Đảng ta đã xác định và lãnh đạo sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo vệ, bảo đảm quyền và lợi ích của cá nhân, công dân. Đây chính là cơ sở khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực tiễn đấu tranh cách mạng và bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng, đất nước, dân tộc từ khi giành được chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã được thực tiễn đất nước khẳng định, là nguyện vọng, ý chí của nhân dân và hợp hiến. Trải qua thực tiễn lãnh đạo đất nước qua các thời kỳ lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, phát triển về tư duy lý luận và năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trở thành một quốc gia ngày càng phát triển, góp phần khẳng định và nâng tầm vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

2. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội

Khái niệm “đảng cầm quyền” lần đầu tiên được V.I. Lênin nêu ra. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sử dụng một số thuật ngữ để nói về vai trò cầm quyền của Đảng như: Đảng giành được chính quyền, Đảng nắm chính quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền, Đảng cầm quyền. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”(19). Chủ tịch Hồ Chí Minh coi vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là một nguyên tắc thể hiện vai trò cầm quyền của Đảng. Sở dĩ, Đảng giữ trọng trách to lớn đó là bởi mục đích của Đảng không có gì khác là “lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”(20). Vì vậy, “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(21), “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”(22).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra việc phải phân định rõ ràng chức năng, quyền hạn của Đảng và Nhà nước. Người phê phán việc các tổ chức đảng ôm đồm, bao biện, làm thay những công việc cụ thể của các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng lãnh đạo bằng các chủ trương, chính sách trong các chỉ thị, nghị quyết, bằng sự thuyết phục và bằng công tác kiểm tra chứ không làm thay công việc của Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trong Đảng và Nhà nước ta có sự phân công chặt chẽ như các bộ phận trong chiếc đồng hồ: cái kim, dây cót khác nhau nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau. Thiếu một bộ phận nào cũng không được”(23). Về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Đảng giữ vai trò lãnh đạo nhưng Đảng cũng phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là tuân thủ Hiến pháp. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội nhưng không đứng trên luật pháp, đứng ngoài luật pháp.

Các tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên phải làm tốt công tác vận động, giúp đỡ quần chúng, tôn trọng quyền lợi của dân, tạo điều kiện cho dân kiểm tra, giám sát hoạt động của Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân phải tin dân, phải biết dựa vào dân, phát huy mọi năng lực tiềm tàng trong dân. Cho nên, phải “giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”(24).

Tư tưởng dân chủ và thực hành dân chủ là một trong những hạt nhân cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, về Đảng lãnh đạo. Xây dựng môi trường thực hành dân chủ thông qua các phong trào dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước ta là sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để lãnh đạo một cách thiết thực và có hiệu quả, hiện thực hóa được các chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ lãnh đạo “phải đi sâu, đi sát cơ sở, nằm ở cơ sở để chỉ đạo phong trào, không nên xuống cơ sở theo lối chuồn chuồn đạp nước”(25).

Vị trí cầm quyền của Đảng ta được thể hiện ở nội dung cầm quyền, trách nhiệm của Đảng trong hệ thống chính trị, trong mối quan hệ giữa Đảng với các thiết chế chính trị: Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể nhân dân và toàn thể xã hội. Nội dung cầm quyền của Đảng được thể hiện trên các lĩnh vực đời sống xã hội, ở sứ mệnh trọng đại của Đảng đối với quốc gia, dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa vì sự tự do, phát triển của mỗi cá nhân.

Khoản 2, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Bằng quy định này, bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với nhân dân đã được xác định rõ nét hơn. Với tư cách là đảng duy nhất cầm quyền, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước.

Nội dung cầm quyền của Đảng là toàn bộ hoạt động của đảng cầm quyền, bao gồm: việc xác định mục tiêu chính trị của Đảng và dân tộc, đường lối phát triển đất nước, nội dung thực hiện mục tiêu chính trị và bao quát toàn diện các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh đất nước. Sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nội dung lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm tính định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo lập cơ sở chính trị cho tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Xét trên bình diện nguyên tắc, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là hệ thống các phương pháp, các hình thức, các biện pháp mà Đảng tác động vào Nhà nước để hiện thực hóa ý chí và mục tiêu của Đảng. Phương thức lãnh đạo của Đảng khi đã giành được chính quyền khác rất nhiều so với khi chưa có chính quyền. Trước khi có chính quyền, phương thức lãnh đạo của Đảng chủ yếu là các tổ chức đảng và đảng viên trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng đến các hội, đoàn thể, quần chúng. Khi đã có chính quyền thì chính quyền là công cụ để đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Trong phương thức cầm quyền, ngoài cách thức tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân, Đảng lãnh đạo chính quyền thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật.

Theo một số nhà nghiên cứu, khái niệm “phương thức lãnh đạo” có nội dung rất rộng, chỉ toàn bộ phương pháp chung và các phương pháp cụ thể của toàn bộ quá trình lãnh đạo và cầm quyền của Đảng - bắt đầu từ khâu xây dựng đường lối, chính sách cho đến khi đường lối, chính sách đó đến được với quần chúng nhân dân và trở thành hiện thực với những chỉ số hiệu quả cụ thể (26).

Các thành tố cơ bản của phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm: các công cụ lãnh đạo, hệ thống các mối liên hệ và cơ chế liên hệ giữa Đảng với xã hội, với Nhà nước, với hệ thống chính trị; hệ thống các phương pháp tiếp cận và phong cách lãnh đạo.

Cơ sở của phương thức lãnh đạo bắt nguồn từ vị trí, vai trò của Đảng với tư cách là một đảng cầm quyền, có trách nhiệm trọng đại đối với sự phát triển của đất nước. Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, hệ thống chính trị Việt Nam. Vị trí lãnh đạo và cầm quyền của Đảng quyết định phương thức lãnh đạo của Đảng. Điều này không phải là vấn đề lợi ích riêng của Đảng, của các tổ chức đảng, mà trái lại, chính là sứ mệnh lịch sử, trách nhiệm chính trị của Đảng đối với nhân dân, dân tộc.

Trong hệ thống chính trị nước ta, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được thể hiện trên các phương thức cơ bản sau đây:

Một là, Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển của toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ nhất định.

Hai là, Đảng đề ra phương hướng và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng một Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, một Nhà nước có bộ máy chính quy, quy chế làm việc khoa học với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực tổ chức và quản lý, hết lòng vì nhân dân.

Ba là, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu.

Bốn là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn những đảng viên ưu tú và những người ngoài Đảng có phẩm chất và năng lực giới thiệu với cơ quan nhà nước để thông qua cơ chế bầu cử, tuyển chọn của Nhà nước, bố trí vào công tác trong các cơ quan nhà nước.

Năm là, Đảng giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu; tuyên truyền, vận động, tập hợp quần chúng, giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, ủng hộ và tích cực thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân... chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Sáu là, Đảng kiểm tra đảng viên và các tổ chức của Đảng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước về việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, các nghị quyết của Đảng.

Đại hội XIII của Đảng năm 2021 đã khẳng định những kết quả quan trọng về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân. Việc ban hành chủ trương, nghị quyết của Đảng đã bám sát thực tiễn, phát huy dân chủ, gắn với xây dựng kế hoạch và chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt. Ban Chấp hành Trung ương ban hành kịp thời các nghị quyết, quy định, kết luận để triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược. Bộ Chính trị ban hành các kế hoạch thực hiện nghị quyết; xác định nhiệm vụ cụ thể cho các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương; chỉ đạo các cơ quan nhà nước bổ sung, sửa đổi và ban hành mới các luật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để thực hiện, sớm đưa các nghị quyết vào cuộc sống.

Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định những kết quả quan trọng về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng _Ảnh: TTXVN 
Sau đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở đã sớm chỉ đạo kiện toàn chức danh lãnh đạo trong các tổ chức của hệ thống chính trị.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy ngày càng được hoàn thiện; phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, xác định rõ hơn trách nhiệm của tập thể, cá nhân, bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò chủ động của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Phong cách, lề lối làm việc của nhiều cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn, sâu sát cơ sở. Cải cách hành chính trong Đảng được quan tâm; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đạt nhiều kết quả.

Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp được phát huy. Công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được đẩy mạnh; đã chủ động định hướng thông tin, tuyên truyền của Đảng và đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Công tác kiểm tra, giám sát được coi trọng, nhất là kiểm tra việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, chấn chỉnh những nơi thực hiện chưa tốt, đồng thời phổ biến, nhân rộng những cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả.

Mặc dù vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời. Việc ban hành nghị quyết của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi; việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nghị quyết chưa nghiêm, hiệu quả thấp, chưa đạt yêu cầu đề ra. Tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng còn xảy ra ở một số nơi. Công tác vận động, giáo dục, thuyết phục đảng viên và nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có mặt còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thật sự tiên phong, gương mẫu. Cải cách hành chính trong Đảng còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu(27).

Trách nhiệm của Đảng lãnh đạo Nhà nước là để bảo đảm cho Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ, bảo đảm quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức và sự phát triển bền vững của đất nước. Thước đo tính đúng đắn, uy tín sự lãnh đạo của Đảng cuối cùng phải được thể hiện ở hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Năng lực, hiệu quả hoạt động, uy tín xã hội của Nhà nước lại không chỉ do các tổ chức đảng đánh giá mà phải là sự kiểm soát, đánh giá một cách công khai, dân chủ của người dân, cộng đồng và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ ở cấp Trung ương mà còn thể hiện ở cấp địa phương, thể hiện trong mối quan hệ giữa cơ quan, tổ chức đảng với cơ quan, thủ trưởng các đơn vị, tổ chức cơ sở.

Bằng việc xây dựng, triển khai thực hiện Cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà nước và các thiết chế khác trong hệ thống chính trị. Đảng xây dựng, đề ra những phương hướng lớn cho sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, những quan điểm cơ bản của chính sách đối nội và đối ngoại. Cương lĩnh, chiến lược, đường lối đúng đắn, khoa học và phù hợp xu thế thời đại là điều kiện cơ bản để Đảng phát huy được vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Đó là vai trò, trách nhiệm, vị thế, là quyền lực chính trị chính danh của Đảng.

Trách nhiệm của Nhà nước là phải kịp thời thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành các quy định pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Ngày nay, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước đã thay đổi mạnh mẽ, đặt ra những đòi hỏi nghiêm ngặt của xã hội, của Nhà nước về sự lãnh đạo của Đảng ngay từ khâu Đảng xây dựng cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết.

Phương pháp và cách thức lãnh đạo của Đảng được thực hiện bằng hình thức tuyên truyền, thuyết phục và bằng hoạt động gương mẫu của các đảng viên. Đảng không dùng phương pháp mệnh lệnh cưỡng bức. Đó chính là sự khác nhau giữa phương pháp lãnh đạo của Đảng và phương pháp quản lý xã hội của Nhà nước.

Đảng lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, khuyến khích những mặt tốt, uốn nắn những lệch lạc, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân.

Trong thực tiễn lãnh đạo Nhà nước và xã hội, các tổ chức của Đảng và mỗi đảng viên cần thấm nhuần và thực hiện đúng lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”(28). Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nội dung hoạt động lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm mục tiêu cao cả là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, đất nước phát triển bền vững. Sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội nhằm bảo đảm sự vận hành đồng bộ của hệ thống chính trị, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, các tổ chức pháp lý, xã hội hoạt động đúng nhiệm vụ, thẩm quyền, chức năng và vai trò của mình, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật./.

--------------

(1) Xem Văn phòng Quốc hội: Tổ chức và hoạt động của quốc hội một số nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 47
(2) Theo đánh giá của T.B. Macaulay - chính trị gia người Anh, những nhóm đầu tiên có thể gọi là các đảng chính trị là những người thuộc Cavalier và Rouhead: Cavalier là nhóm các kỵ sĩ hộ tống vua Charles I trong thời kỳ nội chiến ở Anh và Rouhead là những người ủng hộ nghị viện
(3) Xem Joseph La Palombara and Myron Weiner: Political parties and political development, Princeton University Press, USA, 1966, p. 5
(4) Xem Văn phòng Quốc hội: Tổ chức và hoạt động của quốc hội một số nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 47
(5) Xem Hồ Văn Thông: Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 95
(6) Xem Văn phòng Quốc hội: Tổ chức và hoạt động của quốc hội một số nước, Sđd, tr. 48
(7) Xem Viện Thông tin khoa học xã hội: Chính trị học, Nxb. Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 43
(8) Xem Anatôli Butenkhô: Đảng trong hệ thống chính trị của xã hội xã hội chủ nghĩa, Nxb. APN, Mátxcơva, 1970, tr. 19
(9) Viện Thông tin khoa học xã hội: Chính trị học, Sđd, tr. 44
(10) Xem Hồ Văn Thông: Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay, Sđd
(11) Xem Nguyễn Văn Huyên: Đảng Cộng sản cầm quyền - Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 35
(12) Xem Ban Tổ chức Trung ương: Một số vấn đề về đảng cầm quyền và công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới (Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp khối Đảng, đoàn thể năm 2011), Hà Nội, 2011, tr. 2
(13) Lê Hữu Nghĩa: “Vai trò lãnh đạo của Đảng là hợp lòng dân, hợp hiến, hợp pháp”, Báo điện tử Vì Tổ quốc Việt Nam, http://vitoquocvietnam.wordpress.com/2013/03/29/vai-tro-lanh-dao-cua-dang-la-hop-long-dan-hop-hien-hop-phap/, ngày 29/3/2013
(14) Vũ Trọng Lâm: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là tất yếu khách quan”, Tạp chí Cộng sản, số 944, tháng 6-2020, tr. 42
(15) Xem Nguyễn Văn Huyên: Đảng Cộng sản cầm quyền - Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, Sđd, tr. 35
(16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 88
(17), (18) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 4
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 622
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 3, tr. 5
(21), (22) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 5, tr. 289, 290
(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 335
(24) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 5, tr. 326
(25) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 277
(26) Xem Đào Trí Úc: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, Tạp chí Cộng sản điện tử, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2007/2504/Tiep-tuc-doi-moi-phuong-thuclanh-dao-cua-Dang-doi-voi.aspx(23), ngày 26/9/2007.
(27) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 213 - 218
(28) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 612.

​Theo PGS, TS. VŨ TRỌNG LÂM/Tạp chí Cộng sản

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Tin liên quan

Cùng chuyên mục